KÍNH LỄ NHƯ LAI-ỨNG CÚNG-CHÁNH BIẾN TRI-MINH HẠNH TÚC-THIỆN THỆ-THẾ GIAN GIẢI-VÔ THƯỢNG SĨ-ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU-THIÊN NHÂN SƯ-PHẬT THẾ TÔN                                                                     KÍNH LỄ NHƯ LAI-ỨNG CÚNG-CHÁNH BIẾN TRI-MINH HẠNH TÚC-THIỆN THỆ-THẾ GIAN GIẢI-VÔ THƯỢNG SĨ-ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU-THIÊN NHÂN SƯ-PHẬT THẾ TÔN
Giải thích kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật In Email
Viết bởi Đại sư Nguyên Chiếu - Chính Trang-Giác Vân dịch - Hiệu đính Thích Nguyên Chơn   
Thứ hai, 08 Tháng 11 2010 09:26
Chỉ mục bài viết
Giải thích kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
Quyển thượng
Quyển trung
Quyển hạ
Lời bạt-Chú thích
Tất cả các trang

gtquanvltGIẢI THÍCH KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT

(Quán Vô Lượng Thọ Phật Nghĩa Sớ)

Nguyên tác: Đại sư Nguyên Chiếu

 

 

 

 

QUI ĐỊNH CHỮ VIẾT TẮT

Phật Quang Đại Từ Điển    : PQĐTĐ

Quyển                                 : q.

Từ điển Đinh Phúc Bảo      : TĐ.ĐPB

Từ điển Phật học                : TĐPH

Tập                                     : t.

Trang                                  : tr.

Viện Cao Đẳng Phật học    : VCĐPH

Viện Nghiên cứu Phật học : VNCPH


LỜI TỰA

Kinh quán Vô Lượng Thọ Phật là một trong ba bộ kinh chính yếu của tông Tịnh Độ, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 16, No. 1756. Nội dung bộ kinh, Đức Phật chỉ bày y báo chánh báo của Tịnh Độ để dạy cho hoàng hậu Vi-đề-hi và chúng sinh quán tưởng, làm chánh nhân đoạn trừ tội chướng, sinh về cõi Tịnh. Do đó, bộ kinh này được nhiều luận sư Tịnh Độ lưu tâm sớ giải. Tập Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh nghĩa sớ là một trong những thành quả của công trình nghiên cứu và tu tập giáo Tịnh độ Tây phương hơn 20 năm của đại sư Nguyên Chiếu. Vì thế, bộ chú giải này có giá trị lớn, chuyển tải được toàn bộ  ý chỉ kinh văn.

Để giúp cho hành giả có thêm hành trang tu tập Tịnh nghiệp, chúng tôi được ban Chủ nhiệm nhóm Phiên dịch Hán tạng Pháp Âm phân công chuyển dịch và chú thích bản Sớ giải này sang Việt văn. Chúng tôi đã nỗ lực, nhưng “chim non cánh còn mềm yếu, chỉ mới tập chuyền cành”; vả lại, văn sớ  xen lẫn lời kinh, nên việc  chuyển dịch gặp khó khăn và còn nhiều khiếm khuyết. Kính xin các bậc cao minh và người đọc niệm tình thứ lỗi và chỉ giáo.

Nguyện đem công đức phiên dịch kinh nầy hồi hướng cho pháp giới chúng sinh đồng sinh Tịnh Độ.

Mùa xuân Đinh Hợi

PL. 2550 (3 - 2007)

kính ghi


TIỂU SỬ TÁC GIẢ

Luật sư Thích Nguyên Chiếu (1048-1116), sống vào đời Bắc Tống, người huyện Dư Hàng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, họ Đường, tự Trạm Nhiên, hiệu An Nhân Tử. Sư chuyên hoằng truyền Luật tông và Giáo nghĩa Tịnh Độ. Xuất gia lúc tuổi nhỏ, làm thị giả cho luật sư Tuệ Giám ở chùa Tường Phù, Tiền Đường.

Năm Trị Bình thứ hai (1065), Sư tròn 18 tuổi, nhân lúc triều đình mở trường khảo thí độ tăng, Sư tụng thuộc lòng bộ kinh Pháp Hoa, nên được độ xuất gia.

Năm Hy Ninh thứ nhất (1068), Sư cùng với bạn đồng học là Trạch Anh theo ngài Thần Ngộ Xử Khiêm (1011 - 1075) học Giáo quán Thiên Thai, đồng thời nghiên cứu rộng các tông, nhưng lấy giới luật làm đầu.

Về sau, nhân xem luận Tịnh Độ Thập Nghi của ngài Thiên Thai, Sư mới hướng tâm về pháp môn Tịnh Độ, theo lời dạy của ngài Thiện Đạo nhất tâm trì danh hiệu Phật A-di-đà, đồng thời phát nguyện hướng dẫn mọi người đồng tu niệm Phật. Sư biên soạn bộ Tịnh Nghiệp Lễ Sám Nghi (nay đã thất truyền) để tự tu trì. Nhân ngài Thần Ngộ khuyến cáo xiển dương tông chỉ kinh Pháp Hoa, hoằng truyền Tứ Phần giới luật, thế là Sư đến châu Ôn và châu Thai để tham học.

Năm Nguyên Phong thứ nhất (1078), Sư lễ ngài Quảng Từ Tuệ Tài thọ giới Bồ-tát tại Lôi Phong Tây Hồ. Sau đó, Sư nghiên cứu rộng luật học Nam Sơn, sưu tập các tác phẩm của ngài Đạo Tuyên và soạn Nam Sơn Luật Sư Soạn Tập Lục. Sư thường đắp y ôm bát, khất thực ở chợ. Về sau, Sư ở các chùa Sùng Phước, Linh Chi, chuyên việc trước tác, dịch thuật.

Tháng 12 năm Nguyên Phong thứ tám (1085), Tăng thống Cao Ly là Nghĩa Thiên (1055 – 1101) sang Trung Quốc cầu pháp, học sĩ Dương Kiệt (Dương Vô Vi) đưa đến Hàng Châu, từng đến chùa Linh Chi ở Tây Hồ cung thỉnh Sư chỉ dạy luật nghi. Bấy giờ, Sư bèn giảng Tứ Phần Luật San Bổ Yết-ma Sớ, trình bày cương yếu của Luật tông, đồng thời truyền giới Bồ-tát. Sau đó, Nghĩa Thiên thỉnh được những trước tác của Sư mang về Cao Ly khắc bản lưu hành.

Về sau, Sư xét thấy các Tăng sĩ đương thời xem nhẹ giới luật và pháp môn Niệm Phật, nên năm Thiệu Thánh thứ ba (1096) lại khắc in bộ Từ Hôn Tam Tạng Văn Tập (tức Vãng Sinh Tịnh Độ Tập của ngài Tuệ Nhật trước tác) đề xướng y theo kinh luật mà tu trì. Vì việc này, Sư bị tăng chúng công kích và bị vu khống là ngụy tạo Từ Hôn Văn Tập. Sư dâng sớ lên vua trình bày rõ ràng, đồng thời kiểm tra bản cũ để làm chứng thì việc đó mới lắng dịu.

Tháng Hai năm Thiệu Thánh thứ năm (1098), Sư mở giới đàn, y luật truyền giới ở chùa Khai Nguyên (nay thuộc Ninh Ba tỉnh Chiết Giang).

Ngày mùng 1 tháng 9 năm Chính Hòa thứ 6 (1116), Sư viên tịch, thọ 69 tuổi, an táng tại phía Tây Bắc chùa Linh Chi.

Năm Thiệu Hưng thứ 11 (1141), vua Cao Tông đời Nam Tống ban thụy hiệu cho Sư là Đại Trí Luật Sư. Người đời thường gọi là Linh Chi Luật Sư.

Các tác phẩm của ngài: Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Trì Kí và các sách chú thích kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh A-di-đà.

(Trích dịch từ Bách Khoa Đại Từ Điển Phật Quang Đại Từ Điển)


 

TỰA

Nguyên Chiếu

Cõi Ta-bà ô nhiễm, muôn loài chúng sinh cùng chung ở; miền Lạc Bang thanh tịnh, các bậc Thượng thiện thảy đồng cư. Biết là rừng gai[1], thai ngục[2] nên quyết chí vĩnh viễn xa lìa; cõi báu[3], ao vàng[4] cần lắng tâm một đường về thẳng. Lời Thế Tôn (triều âm[5]) hết lòng khen ngợi cõi Lạc Bang, đều chép khắp trong kinh điển; việc đại chúng chuyên tu chứng đắc tòa thượng phẩm, được ghi nhiều trong sử truyện. Bởi vì căn cơ chúng sinh có nhiều khác biệt, cho nên phương tiện giáo hóa cũng lắm pháp môn. Hoặc thời khóa mật chú, hoặc chuyên niệm danh hiệu Phật, hoặc định thời gian tọa thiền, hoặc trường trai giữ giới v.v…, mỗi mỗi đều hợp thời tiết và căn cơ, tất cả được ghi rõ trong khắp kinh sách. Song, chỉ có pháp quán chân chánh này mới hoàn toàn đạt đến vô sinh. Thật là pháp môn nhiệm mầu để trừ nghi dẹp chướng, là phương thuốc thần diệu để trường sinh bất tử vậy!

Xét kỹ, từ xưa người tụng đọc rất nhiều, đến nay kẻ thích nghe cũng không ít. Từ nhỏ, kẻ hèn tôi đã sớm nghiền ngẫm văn này, nên chẳng còn than dài vì muôn kiếp trước không biết lối về, mà lại rất vui mừng, từ đây về sau đã có chỗ qui hướng. Thế nhưng, các Luận sư biên soạn, mỗi mỗi đều chuộng một tông chỉ riêng, khiến người học đời sau khi xem đọc chẳng rõ hướng hành trì. Vì lẽ đó, nên tôi xét kỹ những danh lý[6], đối chiếu cổ kim, chọn lấy những điều hay tốt, lược bỏ những ý rườm rà, chỉ thuật lại chứ không trước tác, nào dám khinh thường những bậc tiền nhân, hệ thống tất cả lại cho có tông chỉ, ngõ hầu lưu lại cho người học đời sau. Văn tuy ngắn gọn, nhưng ý thú ở chỗ hành trì. Muốn thấy được mặt trăng phải nương theo ngón tay, thấy được trăng rồi thì không nên chấp vào ngón tay; muốn qua được bờ kia cần phải nhờ đến thuyền, qua được bờ rồi thì hãy bỏ thuyền lại.

Thương xót chúng sinh đời vị lai, để khỏi phụ lời thỉnh cầu của hoàng hậu Vi-đề-hi; kính vâng lời di chúc thuở xưa, nào dám quên ân trùng tuyên của tôn giả A-nan-đà.

Mong rằng những lời trình bày trên đây sẽ trợ giúp cho hành giả được vãng sinh Cực Lạc vậy!




Bài viết liên quan:
Bài viết mới hơn:

 

Nghe pháp

Nhạc thiền Phật giáo